Chủ Nhật, 22 tháng 9, 2024

Chương I - Đất An Đà quê tôi

 ĐẤT AN ĐÀ QUÊ TÔI

    1. Làng An Đà xưa

Làng An Đà xưa là dải đất chạy dọc bờ phía đông Đầm An Đà (nay là hồ An Biên), tên cũ là Đà Cụ Thôn thuộc An Biên Trang, nay là các khu dân cư An Đà Nội, An Đà Ngoại, phố An Đà thuộc phường Đằng Giang, quân Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng

Theo sách “Người An Đà, Đất An Đà “của cụ Phan Trọng Hậu viết năm Bính Tý 1996 thì:” An Đà _ một cái tên quen thuộc của vùng ven đô thành phố Hải Phòng. Người dân An Đà đến đây từ thời nữ tướng Lê Chân trấn thủ xứ Đông

An Đà tên cũ là Đà Cụ thôn thuộc An Biên Trang, mà sau này là làng An Biên, làng Vẻn. Dấu tích này còn ghi trong Thần phả của Đình An Biên.

Người dân An Đà trước đây sống nghề chài lưới trên vùng đất Đà Sơn - Kinh Thủy còn ghi lại trong đôi câu đối tại Nhà thờ Họ Đặng An Đà

“Kinh Thủy trường lưu minh đức viễn

Đà Sơn dẫn mạch ngũ chi phương” 

Kinh Thủy là tên của một nhánh sông cổ mà qua đó vạn chài có thể thông thuyền từ cửa Cấm qua phía Nam làng Vẽ, làng Vẻn, qua đất Đà Cụ thôn nối sang sông Rào (Sau được đổi tên là sông Lạch Trai rồi Lạch Tray).

Trải qua năm tháng sông Kinh Thủy đã bị bồi lấp dần thành một vùng đầm hồ phía đông nam thành phố như hiện nay. Đà Sơn là tên gọi theo tên thôn Đà Cụ, là nơi neo đậu của tàu thuyền đánh cá, là nơi Vạn chài kéo thuyền lên sửa chữa sau những chuyến vươn khơi (do chính chữ Đà nghĩa là triền đà, bánh lái, và Cụ là công cụ sửa chữa. Đà Sơn cũng là tên một gò cao trên bờ sông Kinh Thủy gọi là gò cao Đồng Ninh (phía sau miếu An Đà ngày nay). Gò cao tương truyền là nơi yên nghỉ của một vị Phúc Thần mà dân An Đà xưa tín ngưỡng, thờ phụng.

Người dân Đà cụ xưa do làm nghề sông nước nên tính tình khẳng khái, cương trực và cũng có nhiều người hiếu học, văn hay, chữ tốt. Tương truyền các Cụ xưa kể rằng: “Trong một lần tế lễ ở Đình trên Hàng Tổng, sau khi nghe một quan Tế Viên người họ Phan của Đà Cụ thôn đọc bài văn tế, vị quan án sát họ Phạm đã phải thốt lên: “Đà Cụ thôn đất sỏi mà có Trạch! “để khen ngợi người viết và đọc bài văn tế đó.

G:\Drive của tôi\E ( Thang Tiến )\2. Phan Van Phuong\15. Tài liệu ông Tản\Picture\z5366240609680_1965ce9759345a5a394c9c1c362af64b.jpgz5366240609680_1965ce9759345a5a394c9c1c362af64b

Đường làng An Đà - năm 1994

Là một thôn nhỏ thuộc An Biên Trang nhưng từ khi khởi lập, Đà Cụ thôn đã có chùa thờ Phật và miếu thờ Thần. Chùa nằm ở phía Bắc đầu thôn hướng ra Đầm Cấm, còn Miếu nằm ở phía nam thôn trên gò cao Đồng Ninh hướng ra phía Đầm An Đà.

  1. Chùa An Đà

Theo bia ký còn lưu giữ thì chùa An Đà tên chữ là LINH QUANG TỰ được khởi dựng từ đời Hậu Lê năm Cảnh Hưng thứ 46 (tức khoảng năm 1785) và được trùng tu tôn tạo nhiều lần, là một trong những chùa đẹp của vùng Đông An thời đó với cây thông cao to nổi tiếng khắp vùng: “Cây Gạo chùa Đông, cây Thông chùa Đà, cây Đa chùa Vẽ “.  

Chùa tọa lạc trên khuôn viên đất nằm ở đầu làng nhìn ra đầm Cấm (nay là phía bắc hồ An Biên).

Trải qua nhiều đời các Sư Thầy, Sư Bác như Thích Bách Phổ, Thích Liễu Liễu, Sư Tổ Thích Đàm Hằng rồi Sư Thầy Thích Đàm Phương đã trụ trì trông coi việc nhà chùa. Đầu những năm 1970 Sư ni Thích Đàm Kiên đã nhập chùa xuống tóc đi tu khi mới 16 tuổi, nối tiếp các Thầy gìn giữ trông coi thiền tự và tu tập trưởng thành.

Do chùa lâu ngày đã xuống cấp, năm 1996 Sư Thầy Thích Đàm Kiên đã hưng công phật tử tứ phương cùng dân làng khởi công xây dựng lại chùa trên nền xưa đất cũ. Ngày 30/4/2004 Chùa Linh Quang An Đà mới được khánh thành khang trang to đẹp như ngày nay. Cùng với dân làng, cụ Phan Trọng Hậu (người làng) đã có nhiều đóng góp cho việc xây dựng lại chùa Linh Quang An Đà.

IMG_256

Chùa Linh Quang An Đà nhìn ra hồ An Biên

Chùa mới có lối kiến trúc chữ công, gồm 7 gian tiền đường, 3 gian ống muống, 3 gian hậu liêu, mái chồng diêm đao tàu chéo góc phần trang trí họa tiết long triều phượng mớm, đậm đà văn hóa dân tộc.

IMG_257

Cổng tam quan

Đây là một quần thể các công trình gồm: Chánh điện với các bức tượng Phật uy nghiêm cùng với các bao lam và hoành phi rực rỡ; nhà Tổ và giảng đường với những cây cột gỗ gụ, gỗ lim đen nháy, kế đến là nhà khách, khi bước vào gặp câu đối: “Người phàm có chí tu được siêu phàm nhập Thánh, Phật nguyệt độ chúng sinh dụng tâm niệm Phật thành Phật.”

IMG_258

Phật Điện

Trong Chùa An Đà tất cả vườn tháp, bảo tháp Đức Quan Thế Âm đều nằm trong khuôn viên mở rộng khang trang cùng với mặt tiền chùa có hồ An Biên thoáng mát, tạo nên cảnh quan hài hòa. 

IMG_260

Bảo Tháp Quan Thế Âm trong chùa

Chùa An Đà là ngôi chùa đẹp ở Hải Phòng và trở thành điểm tham quan du lịch hấp dẫn đối với chư Tăng Ni, Phật tử và du khách khi đến thành phố Cảng.  

IMG_261

Vườn tháp 

  1. Miếu An Đà

Theo cụ Phan Trọng Hậu, người dân Đà Cụ Thôn xưa theo tín ngưỡng thờ Thần, cứ mỗi lần ra sông đánh cá, tịch điền cấy cày. Tết nhất, xuân thu nhị kỳ dân làng đều làm lễ Tế cầu phúc, kỳ an và đều được một vị Nữ Thần tế độ cho mọi sự được tốt lành. Người dân bấy giờ tin chắc rằng “Đây là vị phúc thần hiển linh có thể là vị tùy tướng của Bà Lê Chân sau thời chiến binh đã an nghỉ nơi đây”. Hoặc nơi đây cũng là nơi dân làng lễ bái vong linh thần bà Lê Chân! Vì Đà Cụ Thôn trước cũng thờ Bà Lê Chân như khi còn là thôn thuộc An Biên Trang. Vì vậy trên gò cao Đồng Ninh người dân Đà Cụ đã lập một Am nhỏ để phụng thờ Vị Nữ Minh Thần mà sau này được tôn tạo thành Miếu An Đà. 

IMG_256

Cổng miếu An Đà

Miếu An Đà thuộc phường Đằng Giang, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng được công nhận là DTLSVH cấp thành phố năm 2009. Đây là ngôi miếu cổ thờ hai vị thánh mẫu, một vị là tùy tướng của nữ tướng Lê Chân, một vị là Hoàng phi thời hậu Lê.

IMG_257

Cột cờ trước cửa miếu Hai Bà

Tương truyền, vị tùy tướng của nữ tướng Lê Chân tham gia đội hướng binh, không rõ tên húy, theo nữ tướng Lê Chân giúp Hai Bà Trưng đánh đuổi quân Nam Hán, bà lập nhiều chiến công và hy sinh trong khi đánh giặc. Bà được an táng tại gò Cao ấp Đà Cụ, đó là nơi sau này nhân dân lập miếu An Đà, miếu được tồn tại từ đó cho đến nay. Bà được các triều đại vua ban tặng sắc phong. Hiện nay, miếu còn giữ được sắc phong của vua Duy Tân (năm 1911), vua Khải Định (năm 1924) được nhân dân suy tôn là Thành Hoàng làng.

IMG_259

 Hồ bán nguyệt trước cửa miếu Hai Bà

Vị Hoàng phi Nguyễn Thị Kim vốn là Hoàng phi của vua Lê Chiêu Thống cuối đời Lê. Sau khi vua Lê Chiêu Thống và con trai chết bên Tàu, sau khi đưa thi hài về quê an táng, Hoàng phi đã uống thuốc độc tự vẫn, Quan dân lúc đó đều thương cảm, kính phục. Vua Gia Long sai dựng bia mộ, ban tặng hiệu: An Trinh tiết nghĩa Nguyễn Thị Kim Thượng Đẳng Thân. Tương truyền, Hoàng phi sau khi tuẫn tiết đã báo mộng cho dân Đà Cụ được thờ bà.

Theo sở nguyện của người dân An Đà, Triều đình đã sắc phong cho bà Hoàng Phi Nguyễn Thị Kim là Thành Hoàng của làng An Đà

IMG_260

Tòa Bái Đường Miếu An Đà

Miếu An Đà là công trình tín ngưỡng tâm linh của làng An Đà, xưa thuộc tổng Đông Khê, huyện An Dương, tỉnh Hải Dương. Nhân dân địa phương thường gọi miếu An Đà với tấm lòng kính trọng và tự hào là miếu cổ An Đà. (Đền Hai Bà)

IMG_256

Cổng vào Miếu An Đà

An Đà trước đây là thôn Đà Cụ, xã An Biên, tổng Đông Khê, huyện An Dương, tỉnh Hải Dương. Năm 1909 được thành lập một làng mới và có tên là An Đà. Tên An Đà được ghép từ tên địa phương cũ thôn Đà Cụ với xã An Biên. Xã An Biên là vùng đất có từ rất xa xưa gắn với tên tuổi và sự nghiệp của nữ tướng Lê Chân trong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng đánh đuổi giặc Đông Hán năm 40 sau công nguyên. Nữ tướng Lê Chân đã trở thành thánh mẫu và là thành Hoàng của làng An Biên. Mảnh đất An Đà trước kia nằm dọc bờ sông Lạch Tray, đông giáp Đông Khê, tây giáp Hàng Kênh. Làng chỉ có hơn 120 suất đinh sống bằng nghề chài lưới. Làng gồm 6 dòng họ như: họ Phan, họ Đặng, họ Phạm và 3 dòng họ Nguyễn. Dòng họ Phan, Đặng đến sớm nhất, họ Đặng từ Hàng Kênh chuyển sang.

IMG_256

Các bức phù điêu ở Miếu Hai Bà

Trước năm 1945 xã An Đà có một đình, một chùa, một miếu song do sự thăng trầm của lịch sử, hiện nay An Đà chỉ còn một miếu và một chùa. Song dấu tích của người xưa để lại chỉ còn ở ngôi miếu cổ An Đà.

z5366254566113_728b02ceff14e73b931a37255f3d1a4f

Hình ảnh miếu Hai Bà - 1994

 Miếu cổ An Đà có kiến trúc tuy đơn giản nhưng cùng với những đồ tế khí, tài sản có giá trị là đồ đồng, đồ gỗ, đồ sứ như chuông khảm, tượng của hai vị nữ thần, Bát Biểu, bát hương mang đậm kiến trúc cuối Lê đầu Nguyễn. Khuôn viên được xây dựng trên 500m2 nhìn ra Hồ An Biên thoáng mát với nhiều cây đa, cây đề phủ bóng mát xuống mặt hồ. Miếu cổ đã trải qua nhiều lần tu tạo để bảo tồn và phát huy những giá trị lịch sử văn hóa. Lễ hội miếu An Đà được tổ chức 2 lần trong năm. Đó là Lễ Thượng Nguyên vào ngày 13,14,15 tháng giêng và Lễ Thánh hóa vào ngày 11,12,13 tháng 10 âm lịch hàng năm đã thu hút đông đảo nhân dân và du khách thập phương. Đây là một trong những công trình có giá trị cao về văn hóa tâm linh và là niềm tự hào của người dân An Đà.

z5366255941731_7e59c5c3d7bc09c949d11e62e503a3b8

Ngày lễ ở Miếu Hai Bà - 1994

IMG_256

Hình ảnh trong tòa Bái Đường của Miếu Hai Bà

Cạnh miếu cổ An Đà nay còn lưu giữ một cây Hoa Đại, tương truyền đã được trồng cùng thời khởi dựng Miếu và chùa An Đà có niên đại trên 400 năm tuổi.

Dù có tuổi đời hàng trăm năm nhưng cây vẫn sai hoa, cành lá sum suê và mang vẻ đẹp hiếm có.

Cây đại cao lớn, tán lá phủ rộng ra xung quanh.

“Đây là một trong số những cây đại hiếm hoi khó tìm ở Hải Phòng, được công nhận là cây Di sản Việt Nam nhờ vẻ đẹp tự nhiên và tuổi đời lâu năm, đi cùng bao thăng trầm của làng xã” …

Cây đại cao lớn, tán lá phủ rộng ra xung quanh.

Cây Đại - cây di sản Việt Nam

Khuôn viên miếu rộng rãi, bốn mùa cây lá xanh tươi.

Khuôn viên miếu rộng rãi, bốn mùa cây lá xanh tươi.

Đặc biệt, bức tường bao quanh phía trước miếu An Đà còn có những bức phù điêu, tái hiện lại không gian lịch sử và phong tục tập quán xa xưa của làng An Đà.

Từ cổng miếu nhìn qua hồ bán nguyệt, ngôi miếu uy nghi và trầm mặc nhìn về hướng tây bắc, trông ra hồ An Biên. Miếu có mặt bằng kiến trúc chữ “Đinh”, gồm 3 gian tiền đường, 2 gian hậu cung. Ngay sau miếu là cây đại cao lớn, vượt cả mái ngôi miếu đang trổ đầy hoa.

G:\Drive của tôi\E ( Thang Tiến )\2. Phan Van Phuong\12. Tài liệu ông tản\Ảnh ông Tản\z5366242504719_21e1586a1f24854e2400f164624f30f4.jpgz5366242504719_21e1586a1f24854e2400f164624f30f4

Miếu An Đà nhìn ra Hồ An Biên

G:\Drive của tôi\E ( Thang Tiến )\2. Phan Van Phuong\15. Tài liệu ông Tản\4. Ông Tản mới\Miếu An Đà.jpgMiếu An Đà

Lễ đón nhận di tích lịch sử văn hóa cấp thành phố của Miếu An Đà.

Trải qua biến thiên của thời gian, miếu An Đà vẫn bảo tồn được nguyên vẹn những giá trị về lịch sử - văn hóa như một số hiện vật cổ xưa, văn bia, tập tục thờ cúng thể hiện rõ sắc thái bản địa. Nhân dân địa phương rất tự hào về miếu cổ An Đà, thành kính gọi miếu là Đền Hai Bà.

  1. Đình làng với việc thành lập làng xã An Đà 

Cuối thể kỷ thứ 19 (Khoảng năm 1888-1890) Pháp xây dựng tô giới để mở rộng xuống phía Nam, mở thương cảng Hải Ninh, mở đường đi Đồ Sơn. Đường Lạch Trai (Lạch Tray) được xây dựng. Địa giới hành chính nhiều vùng đất bị sáo trộn trong đó Đà Cụ Thôn được tách khỏi làng An Biên bởi đầm Cấm, đầm An Đà. Không chịu nhập chung với xã bên, dân Đà Cụ Thôn đã làm sớ dâng biểu xin với Triều Đình phong kiến lúc bấy giờ được thành lập xã riêng.

(Tương truyền nhiều người già trong xã kể lại “Cụ phan Văn Vọng và một số cụ Hương Lý trong làng lúc đó là người đã soạn thảo sớ biểu và trực tiếp đi xin với triều đình để thành lập xã riêng tách khỏi xã An Biên). Triều đình phong kiến lúc đó đã chấp thuận cho Đà Cụ Thôn được tách riêng để thành lập xã An Đà thuộc Tổng Đông Khê.

Như vậy đất xã An Đà lúc đó là cả một dải đất phía đông đầm An Đà, phía Bắc từ Miếu Chè đầm Cấm đến cầu Gù cống Hàng Tổng, phía Nam giáp Sông Rào, phía tây giáp đường Lạch Tray mới mở, phía đông giáp xã Đông Khê

Khi thành lập xã mới thì phải có Đình, Chùa, Miếu. Chùa thờ phật, miếu thờ thần thì đã có nhưng Đình thờ Thành Hoàng Làng thì chưa có. Người dân An Đà lúc đó lại làm sớ tâu với triều đình xin xây dựng Đình và xin sắc phong Thần Thành Hoàng Làng. Triều đình lúc đó đã chấp nhận và sắc phong cho xã An Đà vị nữ thần Nguyên là Hoàng Phi của vua Lê Triêu Thống, là người con gái đất Kinh Bắc đức hạnh, trung quân, ái quốc. Đó là “Liệt nữ Hoàng Phi trinh tiết nghĩa Nguyễn Thị Kim thượng đẳng tối linh thần” là Thành Hoàng của Làng An Đà.

Việc xây dựng đình làng và thờ Thành Hoàng đã xong. Đình An Đà nằm trên một dải đất cao ráo, sát bờ đầm nhìn ra hướng tây, có năm gian và hai gian hậu cung kết nối theo kiểu chữ ĐINH. Hai bên đình được trồng hai cây đa, sau này to lớn trùm bóng mát xuống cả một vùng đất. Trong văn bia hiện còn lưu giữ (Tại miếu An Đà) có ghi “Hoàng Triều Thành Thái Nhâm Dần niên (1892) Kiến Thụy Phủ, An Dương Huyện, Đông Khê Tổng, An Đà xã. Kỵ hậu thương hạ đẳng bản xã lập bia ký. Tuyên ư thượng hạ niên tu tạo Miếu đình giữ kỳ tự sự, nhu công tu đá bản xã quyên thủ các tộc chư gia mỗi vị ứng xuất Tiểu Văn Thập lục quan (sáu mươi quan tiền) để đóng góp xây dựng đình miếu”. Như vậy Đình An Đà được xây dựng cuối thế kỷ thứ 19 (1890~1897).

Vào những năm Thành phố Hải Phòng mới giải phóng, Đình làng là nơi mở các lớp học bình dân học vụ, dạy chữ cho dân làng, cũng là nơi dân làng đến tránh trú khi có bão lụt. Vào những năm 1964-1965, khi chiến tranh phá hoại của Mỹ đánh vào miền Bắc, để đảm bảo quy định phòng không, các cây đa to bên Đình An Đà, cây gạo chùa Đông Khê đều bị chặt hạ. Đến năm 1973 Đình làng An Đà cũng bị dỡ bỏ để lấy gỗ, gạch xây dựng trường học.

Vậy là hình ảnh “Cây đa - bến nước - sân đình” của làng An Đà xưa chỉ còn lại trong ký ức và niềm tiếc nuối của những người dân quê hương gốc cũ An Đà!

G:\Drive của tôi\E ( Thang Tiến )\2. Phan Van Phuong\15. Tài liệu ông Tản\Picture\z5366237384436_4dae882d1888c18d0031f97e67b4191e.jpgz5366237384436_4dae882d1888c18d0031f97e67b4191e

Hình ảnh Đình An Đà dưới ngòi bút phác họa của Phan Tản

Đình làng không còn, dẫn làng đã rước độ vị Thành Hoàng là bà Hoàng Phi Trinh Tiết Nghĩa Nguyễn Thị Kim về thờ chung với vị Hiển Thánh Linh Thần tại miếu cổ An Đà. Từ đó Miếu An Đà trở thành nơi thờ tự hai vị nữ thần mà dân gian địa phương quen gọi là Miếu Hai Bà.

Để tri ơn công đức đóng góp vào việc xây dựng tôn tạo Đình Miếu và thành lập làng xã ngay sau khi xây dựng Đình, những người dân An Đà lúc đó đã lập Bia ghi danh các vị đã có công đóng góp nhiều nhất vào một Bia đồng kỵ để lưu danh cho đời sau. Trong đó đứng đầu Danh bia có tên Cụ Phan Đắc Thịnh (Tự Phúc Thông) là Cao Tổ Khảo Họ Phan An Đà và Cụ Phan Công (Tự Phúc Thái) - Xã trưởng kiêm văn trưởng của làng xã An Đà là cao tằng tổ khảo của Họ Phan An Đà cùng nhiều danh xưng khác của các vị họ Phan có tên trong Danh bia ghi công đức người có công xây dựng Chùa, Đình, Miếu của Làng An Đà từ ngày mới khai lập.

Theo phim tài liệu đất An Đà Quê tôi của tác giả Phan Tản (THP -1996) “Năm 1945 trước khi cách mạng tháng Tám thành công, Nhật Pháp đánh nhau, hai quả bom của Nhật đã ném xuống giữa làng gây một thảm họa đau lòng, nhiều người chết, nhiều nhà cửa tan hoang, nhiều gia đình phải chịu đau thương mất mát. Trong những năm kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp, phần lớn dân làng đã rời làng “Tiêu thổ kháng chiến “để góp phần đánh giặc. Nhiều gia đình trong làng đã là cơ sở cách mạng, có hầm bí mật để nuôi giấu cán bộ hoạt động như gia đình ông Chư, ông Bế, ông Đồng… Trong cả hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, làng An Đà đã có hàng trăm con em lên đường nhập ngũ đánh giặc cứu nước. Trong đó có 32 liệt sĩ, 11 thương binh và 2 bà mẹ Việt Nam anh hùng.

Miếu An Đà nằm trên bờ đàm An Đà (nay gọi là Hồ An Biên) phong cảnh đẹp sơn thủy hữu tình, lưng tựa gò cao Đà Sơn (Nay không còn). Các đồ tế khí như kiệu Hai Bà, long đình, bát tiểu nhang án, chiêng, trống còn lưu giữ nguyên nét cổ xưa.

Năm Bính Tý 1997, xây dựng Tòa Bái đường trước sân miếu, Cụ Phan Trọng hậu là Trưởng Ban quản lý di tích và là người có nhiêu công lo toan việc xây dựng Bái Đường. Tổ thợ xây của làng có bác Phan Văn Ánh là người trực tiếp xây dựng tòa bái đường, xây hồ bán nguyệt và các công trình phụ trợ khi đó.

Bác Phan Thị Bình là thủ nhang của Miếu An Đà, là người đã có nhiều đóng góp trong việc duy trì lễ tiết, quản lý di tích lịch sử văn hóa tại Miếu An Đà.

- Năm 2009, Miếu An Đà được công nhận là Di tích lịch sử, văn hóa cấp thành phố.

- Năm Nhâm Thìn 2012: xây mới đền mẫu, tu sửa nhà Tam Quan.

- Năm 2015 cây hoa Đại phía sau miếu có niên đại 400 năm tuổi được vinh danh là Cây di sản Việt Nam

- Năm 2018 Đại trùng tu xây dựng lại tòa Hậu Cung (là nguyên bản gốc của miếu cổ) do xuống cấp, dột nát nhiều

Từ xa xưa, hàng năm tại Miếu An Đà- Đền Hai Bà vẫn duy trì 2 ngày lễ hội làng cho đến ngày nay. Đó là:

- Lễ Thượng Nguyên ngày 15 tháng giêng, cũng là kỹ niệm ngày khánh hạ của vị Nữ Minh thần hiển Thánh.

- Lễ Thánh Hóa ngày 12 tháng 10 âm lịch - Kỷ niệm ngày Thánh Hóa của Hoàng Phi trinh tiết nghĩa Nguyễn Thị Kim.

Cùng với người dân nhiều dòng họ khác ở An Đà từ xa xưa trong Họ Phan đã có nhiều người nhiệt tình tích cực gánh vác lo toan việc làng (như trong Danh bia ghi công các vị đã có công tôn tạo Đình Miếu). Các thế hệ về sau cũng có nhiều người họ Phan có công đóng góp vào việc quản lý, giữ gìn và tôn tạo các Di tích lịch sử văn hóa của làng An Đà. Đáng kể là các vị:

- Cụ Phan Trọng Hậu - Trưởng ban quản lý - khánh tiết.

- Bác Phan Văn Quyết - Trưởng ban quản lý - khánh tiết.

- Bác Phan Văn Học - Trưởng ban quản lý - khánh tiết.

- Bác Phan Văn Tản - Phó ban quản lý - khánh tiết.

- Ông Phan Văn Toại, bác Phan Thị Bình - Thủ nhang miếu nhiều năm

Nhiều người trong Họ Phan đã tham gia trong Ban quản lý-khách tiết của Đình, Chùa, Miếu và có nhiều đóng góp vào việc quản lý, giữ gìn các Di tích lịch sử văn hóa của Làng xã An Đà.

  1. Hồ An Biên

Hồ An Biên xưa còn có tên gọi là hồ Đào 

Theo Dư Địa Chí Hải Phòng, theo sử sách lưu truyền và người xưa kể lại : Từ thời Nữ Tướng Lê Chân “ Hải Tần Phòng Thủ “ đã khai lập ra vùng đất cổ An Biên. Cùng với các dòng sông lớn như Đá Bạch, Sông Cấm… đã đi vào lịch sử , có một con sông lạch mà tên cổ gọi là Sông Kinh Thủy. Dòng Kinh Thủy này là một chi lưu của sông Cửa Cấm chảy qua làng Vẽ, làng Vẻn, Tổng Đông Khê, rồi qua đất Đà Cụ thôn thuộc An Biên Trang để nối sang sông Rào (Sông Lạch Tray). Tên sông Kinh Thủy mất dần theo thời gian mà đổi tên thành sông Lạch Trai (vì đoạn sông này có rất nhiều con trai, con hến) sau mới quen gọi là Lạch Tray.

Tương truyền vào đầu thế kỷ 20, các thuyền buôn, thuyền đánh cá của ngư dân vẫn dong thuyền suốt một dải từ cửa Cấm vào Lạch Trai qua đất Đà Cụ thôn để nối sang sông Rào.

Con sông Lạch đó theo thời gian bị bồi lấp dần thành một vùng đầm hồ phía đông nam thành phố như: Đầm Đông Khê, hồ Tiên Nga, đầm Cấm, đầm An Đà, đầm Phụng Pháp, đồng Bớp…

Đầm An Đà xưa là đầm thuộc đất làng An Đà - bên kia đầm là đất thuộc làng Kênh Dương (Dư Hàng Kênh ngày nay). Cả một dải đất phía đông đầm An Đà là đất của làng xưa An Đà với một “Cây đa - Bến nước - Sân Đình “vẫn in đậm trong ký ức của những người dân gốc An Đà.”

z5366239120719_e1ea8c78d97137d2cfbc49694c6dd7c9

Hình ảnh hồ Đào - 1994

Đầm An Đà xưa từng là nơi lặn ngụp, bơi lội của trẻ thơ những chiều hè là nơi đã từng là nguồn sống, mưu sinh của nhiều thế hệ người dân đôi bờ với những năm tháng nhọc nhằn, vất vả chài lưới, đánh bắt cá tôm, cấy lúa, trống sen … nuôi dạy con cháu lên người, tạo dựng một quê hương biết mấy tự hào như ngày ngay.

Vào những năm cuối thế kỷ 20 - Đầm An Đà, đầm Cấm được cải tạo, nạo vét để trở thành hồ tiêu thoát nước của Thành Phố với tên gọi Hồ Đào.

z5366279583492_969113d194309302c24440e2d5f8c424

Hình ảnh hồ Đào - 1994

Những năm đầu thế ký 21, Thành Phố lại cải tạo khu vực quanh hồ Đào để xây dựng công viên An Biên. Hồ Đào được kè bờ đá, vòng quanh bờ hồ là đường trải nhựa, các dải vườn hoa, cây xanh và các công trình phúc lợi công cộng được tôn tạo như Đài liệt sĩ, cung văn hóa lao động, cung văn hóa thiếu nhi. Hồ Quần Ngựa được cải tạo thành cung căn hóa thể thao thanh niên … Năm 2005 khánh thành công trình công viên An Biên và tên hồ An Biên cũng được gọi từ ngày đó.

Vẫn còn đó quanh hồ là cả một quần thể danh thắng, di tích lịch sử, văn hóa của làng An Đà, An Biên xưa như Chùa Linh Quang An Đà, Miếu An Đà, Chùa Đông Khê, Đình - Chùa Cấm … Xa hơn chút nữa là Đình Đông Khê, Đình Phụng Pháp, Cây đa di sản Việt Nam 13 gốc … Tất cả những di tích đó đã tạo nên một quần thể không gian lịch sử, văn hóa, du lịch đẹp đẽ, đốc đáo quanh Hồ An Biên.

z5372385278199_ba1a68619da70af2983fad9dafff5110 (1)

Hình ảnh hồ An Biên - 2024


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Các bài thơ hay của người trong Họ về quê hương - Dòng tộc - Gia đình

  TÊN CON LÀ NẮNG Khi sinh con ra mẹ đặt tên con là Nắng Sao không là Hùng là Thắng hoặc là Hoa Chắc mẹ muốn con là tia nắng chan hòa Vì ngà...